Advertisements

Archive

Archive for the ‘Luật Di Trú Mỹ-Tham khảo’ Category

Đọc kỹ Chính Sách Mới của Sở Di Trú Mỹ!

Làm biếng dịch mà chờ mãi mấy ngày qua không thấy mấy người hiểu biết về di trú với mấy văn phòng di trú với mấy trang mạng diễn giải nên phải lôi Chính Sách Mới của Sở Di Trú ra đọc cho kỹ! 

Dịch dài hơn con rắn luôn!

Ghét nhất là mấy trang mạng đã không diễn giải cho rõ thì thôi lại còn đăng lại của nhau rồi tát nước theo mưa hù ma, hồ sơ nếu bị từ chối là sẽ bị ghi tên vô sổ đen sổ đỏ!!! Rồi thòng thêm 1 câu là hãy liên hệ với những văn phòng am hiểu về di trú…!!!   C4A1206C-4E0C-431C-AE80-8AF4710EAA6D

(Vùng biên giới Arkansas và Oklahoma… Cá nhiều lắm!)

Nói cho rõ “Hướng Dẫn Thi Hành đối với RFE và NOID của Sở Di Trú” lần này là gì?

RFE là viết tắt của “Yêu Cầu Bằng Chứng” Requets For Evidence

NOID là “Thông Báo Ý Định Từ Chối” Notices Of Intent to Deny

Có nghĩa là chính sách mới sẽ là tăng quyền tùy nghi hành động của nhân viên xem xét hồ sơ trong việc từ chối hoặc yêu cầu bổ sung bằng chứng hoặc cho một ân huệ cuối cùng cập nhật hồ sơ trước khi bị từ chối!

Rõ ràng như vậy chứ không nên suy diễn thêm.

Những hồ sơ nào có thể bị bác một cách “tự do hành động”?

Sở Di Trú nêu rõ:

  1. Những hồ sơ bá vơ, xin quyền lợi di trú dựa trên những chứng cứ không có căn cứ (Đa phần sẽ là những hồ sơ bảo lãnh qua hôn nhân).
  2. Những hồ sơ nộp thiếu căn bản những mẫu đơn chính được yêu cầu theo luật định. Những mẫu đơn được coi là bộ khung của một hồ sơ như là đương nhiên phải có. Thiếu chúng một bộ hồ sơ sẽ bị coi là không hợp lệ.
  3. Những hồ sơ mà qua xem xét nhân viên di trú thấy ngay rằng nó không là một sự xin quyền lợi di trú nghiêm túc mà chỉ đơn thuần như là một sự “Xếp lốt” hoặc “Giữ chỗ” nhằm lấy ngày ưu tiên hoặc để tranh thủ xin Giấy Phép Làm Việc sau đó ỷ lại cho Sở Di Trú vất vả xử lý hồ sơ yêu cầu bổ sung bằng chứng.

Và gì gì đó nữa…

Nhìn chung những chuyện này lâu nay Luật Di Trú đã nói rõ rồi chẳng qua sự thi hành của Sở Di Trú đã có dễ dãi trong quá khứ. Bây giờ hồ sơ bị tồn đọng nhiều nên Sở Di Trú phải ra tay cải tổ lại cách thức làm việc chứ cũng không phải là một sự “tiêu diệt” dân nhập cư gì cả. Phải nói rõ là Sở Di Trú không dễ nữa chứ không phải là khó hơn. Sự thẳng tay với những hồ sơ như vậy sẽ giúp cho Sở Di Trú:

– Tránh được việc tồn đọng hồ sơ quá nhiều, tránh bị xả rác trong kho lưu trữ.

– Không bị xả rác thì tránh bị tốn kém nguồn nhân lực và các loại tốn kém khác.

– Ngăn chặn được sự xếp hàng giữ chỗ của nhiều đương đơn tranh thủ nộp để có Giấy Phép Làm Việc.

– Khuyến khích các đương đơn chuẩn bị hồ sơ chu đáo hơn, kỹ càng hơn. Như vậy sẽ tốt hơn cho tất cả các bên. Lâu nay có nhiều hồ sơ di trú được nộp rất hời hợt nên bị rơi vào tình trạng bị ngâm lâu, mua thêm việc cho Sở Di Trú phải yêu cầu bổ sung bằng chứng khiến hồ sơ tồn đọng và cũng khiến các đương đơn mỏi mòn chờ đợi. Chẳng thà làm hồ sơ dứt khoát 1 lần cho tốt còn hơn bổ sung lên bổ sung xuống mòn mỏi mắc mệt!

Ai cũng biết mẫu đơn xin Thẻ Xanh I-485 nếu muốn được chấp thuận phải có mẫu đơn I-864 Bảo Trợ Tài Chánh đi kèm. Nhưng nhiều đương đơn chỉ nộp đơn độc một mình I-485 và chủ trương bổ sung Bảo Trợ Tài Chánh I-864 sau, khi mà thân nhân của họ hoàn tất việc khai thuế để đủ thu nhập cho việc bảo lãnh. Như vậy rõ ràng là làm khó Sở Di Trú vì đơn không đủ tiêu chuẩn thì nên đợi khi nào đủ thu nhập hãy nộp hoặc nhờ người Co-sign. Tương tự như vậy mẫu đơn bảo lãnh I-130 nhiều người nộp, có được ngày ưu tiên mà lại nộp thiếu mẫu I-130A dành cho người phối ngẫu hoặc bảo lãnh vợ chồng lại quên nộp Đăng Ký Kết Hôn. Hoặc có đương đơn nộp đủ các mẫu đơn nhưng chứng minh quan hệ vợ chồng lại chẳng có chứng từ nào kèm theo cả. Điều này thực không công bằng cho nhân viên duyệt hồ sơ, họ bỏ thời gian giải quyết hồ sơ mà giở ra chỉ thấy lèo tèo có mấy bằng chứng, không chung tài sản, không chung tài khoản, không chung cái gì hết! Như vậy các đương đơn nên tự trách mình. Đi du lịch vô Mỹ có vài tháng ngắn ngủi mà có tình yêu sét đánh rồi kết hôn với người lạ nhanh như hỏa tiễn, rồi trách nước Mỹ khó!!! Quốc tịch Mỹ có giá trị, đâu thể nộp mấy hồ sơ sơ sài mà dễ dàng trở thành công dân Mỹ. Nước Mỹ cho dù có cởi mở cỡ nào cũng đâu thể châm chước như bao lâu nay?! Nếu nộp hồ sơ sớm mà không được chấp thuận vô hình chung làm tăng áp lực cho nhân lực của Sở Di Trú và chiếm chỗ làm tắc nghẽn thêm dòng chảy giải quyết hồ sơ chung của tất cả các đương đơn trên khắp thế giới. Trong số bị tắc nghẽn đó có những hồ sơ nộp rất đầy đủ đúng luật cũng bị ảnh hưởng lây!

Cũng là một lý giải cho tại sao hồ sơ ở Sở Di Trú càng ngày càng nhiều. Ngày giải quyết visa càng ngày càng lùi xa…

Như vậy theo tiêu chí mới nếu hồ sơ của các đương đơn mắc những lỗi không trầm trọng và không bị rơi vào 3 yếu tố như kể trên thì cũng không phải lo lắng gì mấy!

Vậy thôi, chứ khoan nói gì tới bị từ chối là gian dối di trú hay bị liệt vô “Danh Sách Đen” gì hết. Đơn nộp lên bị từ chối thì trước hết Sở Di Trú sẽ nói là không đủ chứng cứ hoặc hồ sơ không hợp lệ hoặc hôn nhân chưa đủ để cho thấy là vợ là chồng như giang hồ công nhận. Không có gì trầm trọng! Còn chuyện gian dối di trú hay hôn nhân giả này kia thì chỉ sau khi điều tra Sở Di Trú mới kết luận là giả hay thiệt!

Tái bút: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Đế Quốc Mỹ là một quốc gia rất uyên bác và ngân khố vui tính chuyện tiền bạc. Hồ sơ bá vơ mà tồn đọng nhiều thì siêu cường cứ thẳng tay từ chối cũng có lý do. Ai mà nộp đơn xuề xòa rồi ưa xóa bài làm lại thì chịu khó tốn tiền rồi muốn nộp đi nộp lại mấy lần cũng được! Đơn Xin Bảo Lãnh I-129 và I-130 giờ là 535 quan tiền! Đơn Xin Thẻ Xanh I-485 là 1140 quan tiền! Đơn Gỡ Thẻ Xanh I-751 là 595 quan tiền! Thi Quốc Tịch N-400 là 640 quan tiền! Chưa kể các loại đơn râu ria với phí lăn tay nữa… Cũng là một nguồn thu ah!

[Bản dịch tiếng Việt]

Trang 1.

Bộ An Ninh Nội Địa Hoa Kỳ.

Sở Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ.

Office of the Director (MS 2000)

Washington, DC 20529-2000

Ngày 13 tháng 7 năm 2018

“Bản Ghi Nhớ Chính Sách Policy Memorandum”

PM-602-0163

Sau đây sẽ gọi tắt là PM

CHỦ ĐỀ: Ban hành Quy Định về “Yêu Cầu Bằng Chứng” Requets For Evidance RFE và “Thông Báo Ý Định Từ Chối” Notices Of Intent to Deny NOID cho một số trường hợp cụ thể; Xét duyệt lại “Hướng dẫn thi hành thực tế đối với nhân viên duyệt hồ sơ” Adjudicator’s Field Manual (AFM).

Chương 10.5(a), Chương 10.5(b)

Mục đích Purpose

Bản ghi nhớ chính sách này (PM) cung cấp hướng dẫn cho các nhân viên duyệt hồ sơ của Sở Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (USCIS) liên quan đến quyền được tự do hành động, tùy nghi quyết định việc từ chối một thỉnh cầu, một đơn xin hoặc yêu cầu về di trú mà không cần đưa ra một Yêu Cầu Bổ Sung Bằng Chứng (RFE) hoặc gửi một Thông Báo Ý Định Từ Chối (NOID) thứ nhất cho các đương đơn nếu hồ sơ nộp ban đầu đã không hội đủ bằng chứng hoặc những bằng chứng đã nộp cho thấy không đạt yêu cầu được hưởng quyền lợi di trú

Hướng dẫn trước đây Previous guidance

Bản ghi nhớ chính sách này thay thế toàn bộ Chính Sách Thi Hành ngày 3 tháng 6 năm 2013 với tiêu đề “Yêu Cầu Bằng Chứng và Thông Báo Ý Định Từ Chối ”(2013 PM) liên quan đến quyền được tự do hành động, tùy nghi quyết định việc từ chối một thỉnh cầu, một đơn xin hoặc yêu cầu về di trú mà không cần đưa ra một Yêu Cầu Bổ Sung Bằng Chứng (RFE). PM này cũng kết hợp với những phần trong PM 2013 vẫn còn có tác dụng trong việc xét duyệt hồ sơp của Sở Di Trú

Phạm vi Scope

Bản ghi nhớ này áp dụng và sẽ được sử dụng để hướng dẫn các quyết định của tất cả những nhân viên của Sở Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ.

Ngày có hiệu lực thi hành Effective Date

Hướng dẫn cập nhật này có hiệu lực từ ngày 11 tháng 9 năm 2018 và áp dụng cho tất cả các đơn từ yêu cầu về di trú được nhận kể từ sau ngày có hiệu lực.

Thẩm quyền áp dụng Authority

Luật số 8 CFR Bộ Luật Liên Bang chương 103.2 (b) (8).

Trang 2.

Bối cảnh Background

PM ngày 3 tháng 6 năm 2013, có tiêu đề “Yêu Cầu Bằng Chứng và Thông Báo Ý Định Từ Chối” (2013 PM)

Đã hướng dẫn chính sách ban hành RFE và NOID khi các bằng chứng được đệ trình tại thời điểm

nộp hồ sơ không cho thấy bao quát một sự đủ tiêu chí để được hưởng quyền lợi di trú. Trong khi PM 2013 hướng dẫn rằng RFE chỉ nên được gửi đi khi các dữ liệu và luật cho thấy được sự tin cậy, nó cũng nói rằng nhân viên duyệt hồ sơ chỉ nên gửi đi một Yêu Cầu Bổ Sung Bằng Chứng trừ phi có một sự “Chưa tin cậy được” cho sự cân nhắc mà các yếu tố đó có thể được khắc phục bằng những bằng chứng bổ sung. Hiệu quả của chính sách “Chưa tin cậy được” chỉ là những từ chối theo luật định (chẳng hạn như từ chối vì sự thỉnh cầu quyền lợi di trú quá mơ hồ) đã được ban ra mà không cần RFE hoặc NOID. PM lần này sẽ chỉ rõ những hồ sơ cụ thể ra sao cũng như hồ sơ thiếu bằng chứng ban đầu sẽ được xử lý như thế nào.

PM 2013 giải thích rằng một RFE được gửi đi khi các bằng chứng đã được nộp cho thấy thiết lập được đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện mà sự chưa đủ điều kiện đó vẫn được cho là đáng tin trong sự xem xét toàn cảnh. Tuy nhiên, qua những dữ liệu lưu trữ của những hồ sơ trong quá khứ PM 2013 đã hạn chế quyền tự chủ của những nhân viên di trú. Chưa hết, Luật số 8 CFR chương 103.2 (b) (8) cũng quy định rằng nhân viên di trú dưới tinh thần của luật có thể hoặc từ chối đơn hoặc gửi đi RFE với NOID khi họ cảm thấy phân vân. Chính sách “Chưa tin cậy được” của năm 2013 đã hạn chế quyền tự do hành động của nhân viên xét duyệt. Độ tin cậy của bằng chứng, tất nhiên là nằm ở phía các đương đơn, thiết lập được sự đáng tin của việc được cho hưởng lợi di trú là từ hồ sơ và các chứng từ của bên nộp. Chính sách bổ sung lần này thay thế cho PM 2013, khắc phục sự mơ hồ của thuật ngữ “Chưa tin cậy được” và khôi phục đầy đủ quyền tự do hành động của người xét duyệt hồ sơ trong việc từ chối mà không cần gửi đi REF hoặc NOID khi thích hợp. Chính sách lần này cũng làm nản lòng những hồ sơ không đáng tin, gian dối hoặc được nộp như là một sự “Giữ chỗ” và nó cũng khuyến khích các đương đơn nỗ lực hơn trong việc nộp đầy đủ bằng chứng. Nó không nhằm “kiếm chuyện” để phạt các đương đơn vì những lỗi vô ý hoặc vì hiểu nhầm những quy định di trú.

Chính sách Policy

Từ chối theo luật định Statutory Denials

Phù hợp với quy định của USCIS, các nhân viên xét hồ sơ sẽ tiếp tục ra quyết định từ chối theo luật định khi thích hợp, mà không cần phải gửi đi RFE hoặc NOID. Điều này sẽ bao gồm bất kỳ hồ sơ nào trong đó

người nộp đơn không cho thấy một cơ sở pháp lý để được hưởng quyền lợi di trú/hoặc những lợi ích của những chương trình đã bị chấm dứt.

Ví dụ về các trường hợp ban hành sự từ chối khi cần thiết mà không cần gửi đi RFE hoặc NOID bao gồm, nhưng không giới hạn:

Trang 3.

  • Các đơn xin miễn trừ yêu cầu cho thấy sự đau khổ vì thiếu thân nhân bên cạnh nhưng người nộp đơn cho thấy sự đau khổ đó là vì thiếu vắng một người mà người đó không có mối quan hệ thân nhân thực sự với đương đơn
  • Đơn xin thị thực gia đình nộp cho các thành viên gia đình theo các loại visa không được xét duyệt theo luật.

Các nhân viên cần kiểm tra chính sách hiện hành và các quy trình vận hành đã được hướng dẫn bổ sung. Ngoài ra, các trường hợp thuộc vào bất kỳ loại kiện tụng nào hoặc đang dính líu tới những lệnh hoặc biện pháp ngăn chặn của tòa án phải được giải quyết theo các quy định về kiện tụng.

Từ chối dựa trên sự thiếu bằng chứng đầy đủ ban đầu Denials Based Of Lack of Sufficient Initial Evidance

Nếu tất cả các bằng chứng ban đầu cần thiết không được gửi cùng với đơn xin, USCIS theo tinh thần tùy nghi quyết định của mình có thể từ chối đơn vì không thiết lập được độ tin cậy vì thiếu bằng chứng ban đầu được yêu cầu.

Ví dụ các hồ sơ có thể bị từ chối mà không cần gửi RFE hoặc NOID bao gồm, nhưng không giới hạn:

  • Đơn xin miễn trừ được nộp với ít hoặc không có bằng chứng; hoặc
  • Các trường hợp quy định, theo luật định hoặc theo hướng dẫn điền đơn đã yêu cầu gửi

tài liệu chính thức hoặc các loại đơn khác hoặc các bằng chứng khác phải thiết lập tính đủ điều kiện tại thời điểm nộp đơn nhưng không được nộp. Ví dụ, các hồ sơ bảo lãnh gia đình cũng như làm việc yêu cầu phải nộp Bản khai bảo trợ tài chánh (Mẫu I-864) nhưng đã không được nộp cùng với Đăng ký thường trú hoặc chuyển diện (mẫu I-485).

Các nhân viên cần kiểm tra chính sách hiện hành và các quy trình vận hành để được hướng dẫn bổ sung cho đồng bộ với việc xét duyệt những hồ sơ. Ngoài ra, các trường hợp trong bất kỳ loại kiện tụng nào hoặc có dính líu với bất kỳ lệnh tòa hoặc lệnh cấm nào phải được giải quyết theo các giao thức quy định về kiện tụng. Hơn nữa, một số hướng dẫn hoặc quy định điền các mẫu đơn có thể cho phép người nộp đơn gửi các đơn trước khi tất cả những bằng chứng yêu cầu ban đầu được đáp ứng hoặc có thể hạn chế thẩm quyền của USCIS trong việc từ chối chỉ dựa trên việc nộp bằng chứng chưa đủ.

Trang 4

Những xem xét bổ sung Additional Considerations

Trong một số trường hợp, đặc biệt là khi hồi đáp một Yêu Cầu Về Bằng Chứng RFE, tiến trình có thể mở ra những yêu cầu mới, những RFE phát sinh tiếp theo có thể được ban hành tiếp. Tuy nhiên, nếu có thể, các viên chức di trú nên lường trước và bao gồm hết các yêu cầu trong một tờ  Yêu Cầu Bằng Chứng RFE. Việc xem xét cẩn thận của các nhân viên di trú về tất cả những độ vênh của các bằng chứng sẽ giảm thiểu việc ban hành nhiều RFE hoặc nhiều quyết định từ chối vì sự thiếu vắng bằng chứng. Hồi đáp lại những RFE hoặc NOID, người nộp đơn phải gửi tất cả các bằng chứng được yêu cầu cùng một lúc, theo đúng với RFE hoặc NOID gốc đã đề cập. Nếu chỉ một số bằng chứng được yêu cầu được gửi, USCIS sẽ coi đây là một yêu cầu cho việc ra quyết định đối với hồ sơ lưu. Xem Luật số 8 CFR chương 103.2 (b) (11). Ngoài ra, không hồi đáp về bằng chứng được yêu cầu đương đơn sẽ bị coi như không hợp tác với nhân viên di trú trong việc giải quyết hồ sơ và điều này sẽ là nền tảng cho sự từ chối. Xem Luật số 8 CFR chương 103.2 (b) (14).

Ngoài RFE, viên chức di trú có quyền tùy nghi quyết định để định lượng những bằng chứng dựa trên những thông tin tham khảo của Sở Di Trú cũng như những cơ quan khác của chính phủ Mỹ. Đó là những hệ thống dữ liệu, lưu trữ hoặc nguồn có sẵn của thông tin công cộng. Xem Luật số 8 USC điều 1357(b). Ví dụ, nhân viên di trú có thể, theo quyết định của mình, xác minh thông tin liên quan đến công ty của nguyên đơn, tham khảo trang web doanh nghiệp nhà nước có sẵn công khai. Một ví dụ khác, một nhân viên có thể cố gắng chứng thực bằng chứng liên quan đến lịch sử di trú cá nhân của những người không định cư tại Hoa Kỳ bằng cách tìm kiếm cơ sở dữ liệu không công khai của chính phủ Hoa Kỳ. Nếu có liên quan, bất kỳ bằng chứng bổ sung nào như vậy nên được đặt trong Hồ sơ lưu trữ tiến trình theo dữ liệu nền tảng quốc gia và Sổ tay kiểm tra quy trình bảo mật (NaBISCOP) và Quy trình vận hành chuẩn (SOP), trừ những trường hợp được miễn trừ cụ thể, như trường hợp đối với dữ liệu được phân loại. Để biết chi tiết, vui lòng tham khảo AFM Chương 10.2, Lưu trữ tiến trình, NaBISCOP và các SOP thích hợp.

Theo Luật số 8 CFR chương 103.2 (b) (16) (i), nếu quyết định bất lợi đối với đương đơn dựa trên những thông tin xúc phạm, và người nộp đơn không biết rằng thông tin đang được xem xét, nhìn chung nhân viên di trú phải đề nghị một cơ hôi cho người nộp đơn rút đơn trước khi quyết định được đưa ra. Bất kì sự giải thích, rút đơn hoặc thông tin được đưa ra bởi hoặc qua một ai đó thay mặt, đại diện cho người nộp đơn đều phải được bao gồm trong hồ sơ lưu của cả tiến trình. Có những ngoại lệ đối với những trường hợp cụ thể.

Trang 5

Trang 6

Trang 7

(Trích đăng những điều được sửa đổi của Sổ tay hướng dẫn thực hành xét duyệt di trú, chương 10.5(a) và 10.5(b))

Trang 8

Phạm vi sử dụng

PM này chỉ dành cho việc đào tạo và hướng dẫn của nhân viên USCIS trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ liên quan đến việc xem xét đơn di trú. Nó không có ý định, không, và không thể được dựa vào để tạo ra bất kỳ quyền hoặc lợi ích di trú, cũng như không tạo ra bất kỳ nội dung quyết định hoặc thủ tục nào có thể thi hành theo luật hoặc bởi bất kỳ cá nhân hoặc phía bên kia của cá nhân đó trong thủ tục trục xuất, kiện tụng với chính phủ Hoa Kỳ hoặc trong bất kỳ hình thức hoặc cách thức nào khác.

Thông tin liên lạc Contact Information

Nếu các nhân viên xem xét hồ sơ của USCIS có thắc mắc hoặc gợi ý về PM này, họ nên thông qua các phòng ban phù hợp của họ trong việc yêu cầu tới Văn phòng Chính sách và Chiến lược.

Tiếng Anh: Policy Memorandum

U.S.Department of Homeland Security

U.S. Citizenship and Immigration Services

Office of the Director (MS 2000)

Washington, DC 20529-2000

July 13, 2018                                                                                           PM-602-0163

Policy Memorandum

SUBJECT: Issuance of Certain RFEs and NOIDs; Revisions to Adjudicator’s Field Manual (AFM)

Chapter 10.5(a), Chapter 10.5(b)

Purpose

This Policy Memorandum (PM) provides guidance to U.S. Citizenship and Immigration Services

(USCIS) adjudicators regarding the discretion to deny an application, petition, or request without first

issuing a Request for Evidence (RFE) or Notice of Intent to Deny (NOID) if initial evidence is not

submitted or if the evidence in the record does not establish eligibility.

Previous guidance

This PM rescinds in its entirety the June 3, 2013 PM titled “Requests for Evidence and Notices of

Intent to Deny” (2013 PM) regarding an adjudicator’s discretion to deny an application, petition, or

request without issuing an RFE. This PM incorporates those portions of the 2013 PM which are still

intended to govern USCIS adjudications.

Scope

This memorandum applies to, and shall be used, to guide determinations by all U.S. Citizenship and

Immigration Services (USCIS) employees.

Effective Date

This updated guidance is effective September 11, 2018 and applies to all applications, petitions, and

requests received after the effective date.

Authority

8 CFR 103.2(b)(8).

Page 2

Background

The June 3, 2013 PM titled “Requests for Evidence and Notices of Intent to Deny” (2013 PM)

addressed policies for the issuance of RFEs and NOIDs when the evidence submitted at the time of

filing does not establish eligibility for the benefit sought. While the 2013 PM provided that RFEs

should be issued “when the facts and the law warrant,” it also stated that an adjudicator should issue an

RFE unless there was “no possibility” that the deficiency could be cured by submission of additional

evidence. The effect of the “no possibility” policy was that only statutory denials (such as a denial

where a nonexistent benefit is requested) would be issued without an RFE or a NOID. This new PM

clarifies how those filings, as well as filings lacking required initial evidence, should be treated.

The 2013 PM explained that an RFE is not to be issued when the evidence already submitted

establishes eligibility or ineligibility in all respects for the particular benefit requested. However,

where the record does not establish eligibility or ineligibility, the 2013 PM limited adjudicators’

discretion to adjudicate cases based on the record. Yet, 8 CFR 103.2(b)(8) provides that an

adjudicator, under the circumstances described in the regulation, may either deny the application,

petition, or request, or issue an RFE or a NOID when the record does not establish eligibility.1 The

2013 PM’s “no possibility” policy limited the application of an adjudicator’s discretion. The burden of

proof, however, is on the applicant, petitioner, or requestor to establish eligibility.

The policy implemented in this PM rescinds the 2013 PM’s “no possibility” policy and restores to the adjudicator

full discretion to deny applications, petitions, and requests without first issuing an RFE or a NOID,

when appropriate. This policy is intended to discourage frivolous or substantially incomplete filings

used as “placeholder” filings and encourage applicants, petitioners, and requestors to be diligent in

collecting and submitting required evidence. It is not intended to penalize filers for innocent mistakes

or misunderstandings of evidentiary requirements.

Policy

Statutory Denials

Consistent with USCIS practice and regulations, adjudicators will continue issuing statutory denials,

when appropriate, without issuing an RFE or a NOID first. This would include any filing in which the

applicant, petitioner, or requestor has no legal basis for the benefit/request sought, or submits a request

for a benefit or relief under a program that has been terminated. Examples of cases where the issuance

of a denial may be appropriate without prior issuance of an RFE or a NOID include, but are not limited to:

Page 3

  • Waiver applications that require a showing of extreme hardship to a qualifying relative, but the

applicant is claiming extreme hardship to someone else and there is no evidence of any

qualifying relative;

  • Family-based visa petitions filed for family members under categories that are not authorized

by statute.

Officers should check current policy and the operating procedures for additional guidance, applicable

to the particular application, petition, or request. Additionally, cases in any type of litigation or that

are subject to any court order or injunction must be addressed under the protocols governing the

litigation.

Denials Based on Lack of Sufficient Initial Evidence

If all required initial evidence is not submitted with the benefit request, USCIS in its discretion may

deny the benefit request for failure to establish eligibility based on lack of required initial evidence.

Examples of filings that may be denied without sending an RFE or a NOID include, but are not limited

to:

  • Waiver applications submitted with little to no supporting evidence; or
  • Cases where the regulations, the statute, or form instructions require the submission of an

official document or other form or evidence establishing eligibility at the time of filing and

there is no submission. For example, family-based or employment-based categories where an

Affidavit of Support (Form I-864), if required, was not submitted with the Application to

Register Permanent Residence or Adjust Status (Form I-485).

Officers should check current policy and the operating procedures for additional guidance, applicable

to the particular application, petition, or request. Additionally, cases in any type of litigation or that

are subject to any court order or injunction must be addressed under the protocols governing the

litigation. Furthermore, certain form instructions or regulations may permit applicants, petitioners, or

requestors to file a form before all the required initial evidence is available, or may restrict USCIS’

authority to deny based solely on the submission of limited evidence.

Page 4

Additional Considerations

In some cases, particularly where the response to an RFE opens up new lines of inquiry, a

follow-up RFE might be warranted. If possible, however, officers should include in a single RFE all

the additional evidence they anticipate having to request. The officer’s careful consideration of all the

apparent gaps in the evidence will minimize the issuance of multiple RFEs or denials for failure to

establish eligibility for the benefit sought. In response to an RFE or a NOID, applicants, petitioners, or

requestors must submit all of the requested materials together at one time, along with the original RFE

or NOID. If only some of the requested evidence is submitted, USCIS will consider this to be a request

for a decision on the record. See 8 CFR 103.2(b)(11). Additionally, failure to submit requested

evidence which precludes a material line of inquiry will be grounds for denying the request.

See 8 CFR 103.2(b)(14).

Apart from RFEs, officers have the discretion to validate assertions or corroborate evidence and

information by consulting USCIS or other governmental files, systems, and databases, or by

obtaining publicly available information that is readily accessible. See 8 USC 1357(b). For example,

an officer may, in the exercise of discretion, verify information relating to a petitioner’s corporate

structure by consulting a publicly available state business website. As another example, an officer may

attempt to corroborate evidence relating to an individual’s history of nonimmigrant stays in the United

States by searching a nonpublic, U.S. government database. If relevant, any such additional evidence

should be placed in the Record of Proceeding according to the National Background, Identity, and

Security Check Operating Procedures Handbook (NaBISCOP) and standard operating procedures

(SOPs), unless specifically exempted from inclusion, as is the case for classified materials. For details,

please refer to AFM Chapter 10.2, Record of Proceeding, the NaBISCOP, and the applicable SOPs.

Under 8 CFR 103.2(b)(16)(i), if a decision adverse to the applicant, petitioner, or requestor is based on

derogatory information, and the applicant, petitioner, or requestor is unaware that the information is

being considered, generally the officer must advise the applicant, petitioner, or requestor, as applicable,

of this information and offer an opportunity for rebuttal before the decision is rendered. Any

explanation, rebuttal, or information presented by or on behalf of the applicant, petitioner, or requestor

must be included in the record of proceeding. There is an exception for certain classified materials.

Page 5

Implementation

The Adjudicator’s Field Manual (AFM) is revised as follows:

(1) Chapter 10.5(a) is revised as follows:

(a) General.

* * *

(2) Considerations Prior to Issuing RFEs.

Initial case review should be thorough. Although the burden of proof is on the applicant, petitioner, or

requestor, before issuing an RFE or NOID, an officer may assess whether the information needed is

available in USCIS databases or systems. Occasionally, certain evidence or information not submitted

with the application, petition, or request may be readily accessible in other USCIS records or

otherwise available from external sources. If such information is available in USCIS databases or

systems, an officer may obtain the information from these sources rather than issuing an RFE or a

NOID. Adjudicators have the discretion to validate assertions or corroborate evidence and information

by consulting USCIS or other governmental files, systems, and databases, or by obtaining publicly

available information. 8 USC 1357(b).

An officer should not request evidence that is outside the scope of the adjudication or otherwise

irrelevant to an identified deficiency. In general, officers may, but are not required to, issue RFEs or

NOIDs, and they retain the discretion to deny a request for ineligibility without issuing an RFE or

NOID.

When an RFE is appropriate, it should:

(1) identify the eligibility requirement(s) that has not been established and why the evidence submitted

was not sufficient;

(2) identify any missing evidence specifically required by the applicable statute, regulation, or form

instruction;

(3) identify examples of other evidence that may be submitted to establish eligibility; and

(4) request that evidence.

The RFE should ask for all of the additional evidence the officer anticipates having to request and

state the deadline for response. The officer’s careful consideration of all the apparent gaps in the

evidence will minimize the issuance of multiple RFEs or denials for failure to establish eligibility for the

benefit sought. In certain instances the evidence provided in response to an RFE may raise eligibility

questions that the adjudicator did not identify during initial case review or open up new lines of inquiry.

In such a case, a follow-up RFE or a NOID might be warranted. Failure to submit requested evidence

which precludes a material line of inquiry, however, will be grounds for denying the request. 8 CFR

103.2(b)(14).

Page 6

Statutory Denials

Statutory denials should generally be issued without prior issuance of an RFE or a NOID on any

application, petition, or request that does not have any basis upon which the applicant, petitioner, or

requestor may be approved. This would include any filing in which the applicant, petitioner, or

requestor has no legal basis for the benefit/request sought, or a request for a program that has been

terminated. Other examples include, but are not limited to:

  • Waiver applications that require a showing of extreme hardship to a qualifying relative but the

applicant is claiming extreme hardship to someone else and there is no evidence of any

qualifying relative;

  • Family-based visa petitions filed for family members under categories that are not provided by

statute based on the claimed family relationship.

Officers should check the applicable policy and operating procedures for additional guidance, as

applicable to the particular application, petition, or request. Additionally, cases in any type of litigation

or that are subject to any court order or injunction must be addressed under the protocols governing

the litigation.5 Furthermore, certain form instructions or regulations may permit applicants, petitioners,

or requestors to file a form before all required initial evidence is available, or may restrict USCIS’

ability to deny based solely on the submission of limited evidence.

Denials Based on Lack of Sufficient Initial Evidence

In the case of a filing that lacks initial evidence, the application, petition, or request may be denied

without issuing an RFE or NOID. Examples of filings in which the issuance of a denial may be

appropriate without prior issuance of an RFE or a NOID include, but are not limited to:

  • Waiver applications submitted with little to no supporting evidence; or
  • Cases where the regulations, the statute, or form instructions require the submission of an

official document or other form or evidence establishing eligibility at the time of filing and there

is no submission. For example, family-based or employment-based categories where an

Affidavit of Support (Form I-864), if required, was not submitted with the Application to

Register Permanent Residence or Adjust Status (Form I-485).

Page 7

* * *

(2) Chapter 10.5(b) is revised as follows:

* * *

(4) Notice of Intent to Deny (NOID).

A NOID may be based on evidence of ineligibility or on derogatory information known to USCIS, but

the applicant, petitioner, or requestor is either unaware of the information or may be unaware of its

impact on eligibility. When an adverse decision is based on derogatory information that is unknown to

the applicant, petitioner, or requestor, generally, an opportunity to rebut that information shall be

provided in accordance with 8 CFR 103.2(b)(16)(i). In that situation, a NOID provides an applicant,

petitioner, or requestor with adequate notice and sufficient opportunity to respond and the opportunity

to review and rebut derogatory information of which he/she/it is unaware. While not required in other

situations, a NOID also provides an applicant, petitioner, or requestor with adequate notice and

sufficient opportunity to respond to an intended denial on other substantive grounds.

6

When a preliminary decision has been made to deny an application or petition and the denial is not

based on lack of initial evidence or a statutory denial as discussed in Chapter 10.5(b), and 8 CFR

103.2(b)(16)(i) applies, the adjudicator must issue a written NOID to the applicant, petitioner, or

requestor providing up to a maximum of 30 days to respond to the NOID. The NOID must include the

required response date.

* * *

(5) The AFM Transmittal Memoranda button is revised by adding, in numerical order, a

new entry to read:

PM-602-0163July 13,2018

Chapter 10.5(a); and Chapter 10.5(b)

Amends standards for issuance of certain requests

for evidence and notices of intent to deny.

Page 8

Use

This PM is intended solely for the training and guidance of USCIS personnel in performing their duties

relative to the adjudication of applications and petitions. It is not intended to, does not, and may not be

relied upon to create any right or benefit, substantive or procedural, enforceable at law or by any

individual or other party in removal proceedings, in litigation with the United States, or in any other

form or manner.

Contact Information

If USCIS adjudicators have questions or suggestions regarding this PM, they should direct them

through their appropriate chains of command to the Office of Policy and Strategy

 

 

 

 

 

Advertisements

Một sự thay đổi thầm lặng trong chính sách Di Trú Mỹ đe dọa những người nhập cư đang nộp đơn xin thay đổi tình trạng?!

Screenshot_20180701-012423.png

  (GPS ban đêm: Giao lộ giữa Freeway I-95 và I-495- và I-395 phía nam Washington DC)

“A quiet change in US policy threatens immigrants who apply
for a change in status”
(Bài báo của Hassan Ahmad này nói hơi quá: Đối mặt với tiến trình trục xuất không có nghĩa là sẽ bị trục xuất. Chuyện đó dài dòng chứ không có dễ trục xuất người ta. Cũng phải công nhận ngoài 1 trường hợp Sở Di Trú gửi nhầm thư tới địa chỉ cũ, người nhập cư bị phiền phức cũng là vì họ đã không tuân thủ những quy định về di trú! Trách mình trước khi trách người! Ai tìm hiểu Di Trú Mỹ lâu nay cũng hiểu đơn từ cho Sở Di Trú phải kèm chứng cớ rõ ràng đâu thể nói miệng mà tin được. Còn Luật Di Trú thì lâu nay bất kỳ ngoại kiều nào để Out of Status thì tất nhiên là không hợp pháp và sẽ là trong tình trạng sẽ bị xem xét trục xuất rồi chẳng qua lâu nay nước Mỹ châm chước thôi!)
Read more…

Hiểu cho rõ về “Trục Xuất Ngay Lập Tức”

Cần nói cho rõ là tổng thống Trump muốn nhấn mạnh đến sự “Trục Xuất Ngay Lập Tức” là dành cho những di dân bất hợp pháp vừa đột nhập vào biên giới của nước Mỹ.

Tức là nói về những người đang ở khu vực biên giới chứ không phải những người đã vào Mỹ lâu rồi!

Cho nên chủ đề sẽ không đề cập tới những người đã ở trong nước Mỹ.

Khái niệm ở trong nước Mỹ lâu nay Luật Di Trú đã nói rõ rồi và lực lượng ICE cũng đã từng thực thi. Sự trục xuất ngay lập tức đó từ ngữ của luật là Expedited Deportation. Cho phép lực lượng biên giới trục xuất 1 ngoại kiều xâm nhập bất hợp pháp vào nước Mỹ khi chưa đi sâu vào nội địa nước Mỹ 100 dặm (160 km) và chưa ở lâu quá 14 ngày!

Lâu hơn và vào sâu nước Mỹ hơn quy định, luật yêu cầu phải đưa ngoại kiều phạm pháp ra xem xét tại một tòa án di trú!

Khi xem xét ở tòa di trú, phải có chỗ giam giữ ngoại kiều đó đàng hoàng có ăn có ngủ có mặc có những sinh hoạt của con người. Ý là đảm bảo nhân quyền! Tòa án xem xét phải theo luật lệ, có ngày tháng bao nhiêu lần, có luật sư biện hộ… Read more…

Nói chuyện chữ nghĩa: Tình trạng quá tuổi… CSPA, Priority Day, Cut-Off Day, Aging-Out, Freeze, Backlog, Retrogression.

image_550270042423229

 (Nhà nước nhắc nhở: Cái cầu có thể đóng băng khi thời tiết lạnh! Carrollton city, Texas)

image_550270461586772

 (North President George Bush Turnpike Freeway, Carrollton city.)

Về việc giữ tuổi của các trẻ em để không bị thiệt thòi những quyền lợi di trú Mỹ thì đã được nói nhiều.

Báo chí và các trang mạng tràn ngập thông tin về chuyện này.

Ở đây chỉ muốn ôn lại một số từ ngữ.

Child Status Protection Act (CSPA) là Đạo Luật Bảo Vệ Tình Trạng Trẻ Em.

Nhiều người cứ gọi là Đạo Luật Bảo Vệ Trẻ Em không có đúng.

Bảo vệ trẻ em là khác: Bảo vệ trẻ em là cách ly trẻ em ra khỏi sự nguy hiểm. Còn nghĩa ở đây là bảo vệ một tình trạng các em nhỏ vẫn đang là trẻ em, chưa phải là người lớn! Ngày xưa nhiều trẻ em được ăn theo hoặc được cha mẹ sống bên Mỹ bảo lãnh đi Mỹ định cư thường bị loại oan ức vì quá tuổi quy định do hồ sơ bị ngâm ở Sở Di Trú lâu quá. Mặc dù khi nộp hồ sơ các em vẫn còn nhỏ và đủ điều kiện để được cấp visa. Những hồ sơ như F4, anh chị em công dân Mỹ bảo lãnh thì lâu thôi rồi. Từ lúc nộp đến lúc đi hiện nay đang là 14 năm. Quá trình lâu như vậy nên khi hồ sơ nằm chờ để được chấp thuận ở Sở Di Trú tốn mất 5-6, 7-8 năm là bình thường. Sau khi được chấp thuận còn phải chờ xếp hàng đợi visa hàng năm tới lượt mình nữa…

Là đang nói đến những trẻ em hoặc những thanh niên vẫn được gọi là trẻ em khi đang dưới 21 tuổi. Read more…

Nói chuyện chữ nghĩa: Opting–Out trong Luật Di Trú.

img_20180303_084015

(Hùng Nguyễn, đàn em Hồng già. Ngõ nhỏ phố nhỏ, Honolulu city Hawaii…)

Opting-Out có nghĩa là không lựa chọn!

Nói theo dân gian là dội ra, bật ra, dãn ra không thèm lấy khi đươc ai đó cho cái gì đó…

Thuật ngữ này hay được dùng trong sự tương tác của loại visa bảo lãnh định cư F1 và F2B.

F1 là loại visa công dân Mỹ (đã có quốc tịch) bảo lãnh cho con cái trên 21 tuổi nhưng vẫn còn độc thân.
F2A là Thường trú nhân (có thẻ xanh) bảo lãnh cho vợ chồng hoặc con cái dưới 21 tuổi-độc thân.
F2B là Thường trú nhân bảo lãnh cho con cái trên 21 tuổi nhưng vẫn còn độc thân.

Thời gian đợi phỏng vấn của F1 hiện nay là 7 năm 2 tháng.

F2B đợi mất 7 năm.

Như vậy là F2B đợi ít lâu hơn F1 2 tháng.

2 tháng thì chênh lệch không có nhiều!

Nhưng mà trong quá khứ hoặc có thể trong tương lai và đối với các đương đơn là công dân Philippines, có lúc F2B có visa sớm hơn F1 hơn cả năm luôn. Là tại vì hồ sơ này ít hơn F1 nên thời gian chờ mau hơn.

Theo luật thì cha mẹ của những đương đơn F2B mà trở thành công dân Mỹ thì hồ sơ bảo lãnh của họ sẽ tự động chuyển thành F1. Nghĩa là thời gian chờ đợi sẽ lâu hơn nếu lúc đó tiến trình xin visa của F1 bị tồn đọng nhiều và đang có xu hướng còn lâu hơn F2B dài dài. Cho nên nhiều người họ quyết định lấy cái Opting-Out, nghĩa là không chọn nhảy lên F1.

Thường thì công dân Mỹ được hưởng quyền lợi nhiều hơn Thường Trú Nhân nhưng trong trường hợp này thì không phải như vậy nên giang hồ họ thấy cái nào lợi thì họ làm.

Và nhà nước cũng thấy vụ nhảy cấp visa này vô lý quá nên đã cho họ hành động thì họ lấy Opting-Out. Xin không chọn F1 và giữ nguyên tình trạng hồ sơ là F2B thay vì bị tự động nhảy thành F1:

Không chọn cái mà Luật đã trao cho!

Sắc Lệnh Hành Pháp 25/01/2017: Chính là Sắc Lệnh khiến nhiều người Việt ở Mỹ lo lắng! (Nâng cao an toàn công cộng trong nội địa nước Mỹ Executive Order: Enhancing Public Safety in the Interior of the United States – Tài liệu tiếng Anh).

Sắc Lệnh này nêu ra những điều khoản về việc có thể trục xuất những người nước ngoài đã phạm tội tại Mỹ và những Thường Trú Nhân không có trách nhiệm với nước Mỹ, tìm mọi cách lợi dụng lòng tốt và những ưu đãi của nước Mỹ…Sắc Lệnh này nhiệt tình thái quá! Thực tế không dễ gì thực hiện được, không đủ ngân sách và nhân lực, không thể đương đầu và đụng chạm tới những giá trị Mỹ!
The White House
Office of the Press Secretary
For Immediate Release

Executive Order: Enhancing Public Safety in the Interior of the United States

EXECUTIVE ORDER

– – – – – – –

ENHANCING PUBLIC SAFETY IN THE INTERIOR OF THE
UNITED STATES

By the authority vested in me as President by the Constitution and the laws of the United States of America, including the Immigration and Nationality Act (INA) (8 U.S.C. 1101 et seq.), and in order to ensure the public safety of the American people in communities across the United States as well as to ensure that our Nation’s immigration laws are faithfully executed, I hereby declare the policy of the executive branch to be, and order, as follows:

Section 1.  Purpose.  Interior enforcement of our Nation’s immigration laws is critically important to the national security and public safety of the United States.  Many aliens who illegally enter the United States and those who overstay or otherwise violate the terms of their visas present a significant threat to national security and public safety.  This is particularly so for aliens who engage in criminal conduct in the United States.

Sanctuary jurisdictions across the United States willfully violate Federal law in an attempt to shield aliens from removal from the United States.  These jurisdictions have caused immeasurable harm to the American people and to the very fabric of our Republic.

Tens of thousands of removable aliens have been released into communities across the country, solely because their home countries refuse to accept their repatriation.  Many of these aliens are criminals who have served time in our Federal, State, and local jails.  The presence of such individuals in the United States, and the practices of foreign nations that refuse the repatriation of their nationals, are contrary to the national interest.

Although Federal immigration law provides a framework for Federal-State partnerships in enforcing our immigration laws to ensure the removal of aliens who have no right to be in the United States, the Federal Government has failed to discharge this basic sovereign responsibility.  We cannot faithfully execute the immigration laws of the United States if we exempt classes or categories of removable aliens from potential enforcement.  The purpose of this order is to direct executive departments and agencies (agencies) to employ all lawful means to enforce the immigration laws of the United States.

Sec. 2.  Policy.  It is the policy of the executive branch to:

(a)  Ensure the faithful execution of the immigration laws of the United States, including the INA, against all removable aliens, consistent with Article II, Section 3 of the United States Constitution and section 3331 of title 5, United States Code;

(b)  Make use of all available systems and resources to ensure the efficient and faithful execution of the immigration laws of the United States;

(c)  Ensure that jurisdictions that fail to comply with applicable Federal law do not receive Federal funds, except as mandated by law;

(d)  Ensure that aliens ordered removed from the United States are promptly removed; and

(e)  Support victims, and the families of victims, of crimes committed by removable aliens.

Sec. 3.  Definitions.  The terms of this order, where applicable, shall have the meaning provided by section 1101 of title 8, United States Code.

Sec. 4.  Enforcement of the Immigration Laws in the Interior of the United States.  In furtherance of the policy described in section 2 of this order, I hereby direct agencies to employ all lawful means to ensure the faithful execution of the immigration laws of the United States against all removable aliens.

Sec. 5.  Enforcement Priorities.  In executing faithfully the immigration laws of the United States, the Secretary of Homeland Security (Secretary) shall prioritize for removal those aliens described by the Congress in sections 212(a)(2), (a)(3), and (a)(6)(C), 235, and 237(a)(2) and (4) of the INA (8 U.S.C. 1182(a)(2), (a)(3), and (a)(6)(C), 1225, and 1227(a)(2) and (4)), as well as removable aliens who:

(a)  Have been convicted of any criminal offense;

(b)  Have been charged with any criminal offense, where such charge has not been resolved;

(c)  Have committed acts that constitute a chargeable criminal offense;

(d)  Have engaged in fraud or willful misrepresentation in connection with any official matter or application before a governmental agency;

(e)  Have abused any program related to receipt of public benefits;

(f)  Are subject to a final order of removal, but who have not complied with their legal obligation to depart the United States; or

(g)  In the judgment of an immigration officer, otherwise pose a risk to public safety or national security.

Sec. 6.  Civil Fines and Penalties.  As soon as practicable, and by no later than one year after the date of this order, the Secretary shall issue guidance and promulgate regulations, where required by law, to ensure the assessment and collection of all fines and penalties that the Secretary is authorized under the law to assess and collect from aliens unlawfully present in the United States and from those who facilitate their presence in the United States.

Sec. 7.  Additional Enforcement and Removal Officers.  The Secretary, through the Director of U.S. Immigration and Customs Enforcement, shall, to the extent permitted by law and subject to the availability of appropriations, take all appropriate action to hire 10,000 additional immigration officers, who shall complete relevant training and be authorized to perform the law enforcement functions described in section 287 of the INA (8 U.S.C. 1357).

Sec. 8.  Federal-State Agreements.  It is the policy of the executive branch to empower State and local law enforcement agencies across the country to perform the functions of an immigration officer in the interior of the United States to the maximum extent permitted by law.

(a)  In furtherance of this policy, the Secretary shall immediately take appropriate action to engage with the Governors of the States, as well as local officials, for the purpose of preparing to enter into agreements under section 287(g) of the INA (8 U.S.C. 1357(g)).

(b)  To the extent permitted by law and with the consent of State or local officials, as appropriate, the Secretary shall take appropriate action, through agreements under section 287(g) of the INA, or otherwise, to authorize State and local law enforcement officials, as the Secretary determines are qualified and appropriate, to perform the functions of immigration officers in relation to the investigation, apprehension, or detention of aliens in the United States under the direction and the supervision of the Secretary.  Such authorization shall be in addition to, rather than in place of, Federal performance of these duties.

(c)  To the extent permitted by law, the Secretary may structure each agreement under section 287(g) of the INA in a manner that provides the most effective model for enforcing Federal immigration laws for that jurisdiction.

Sec. 9.  Sanctuary Jurisdictions.  It is the policy of the executive branch to ensure, to the fullest extent of the law, that a State, or a political subdivision of a State, shall comply with 8 U.S.C. 1373.

(a)  In furtherance of this policy, the Attorney General and the Secretary, in their discretion and to the extent consistent with law, shall ensure that jurisdictions that willfully refuse to comply with 8 U.S.C. 1373 (sanctuary jurisdictions) are not eligible to receive Federal grants, except as deemed necessary for law enforcement purposes by the Attorney General or the Secretary.  The Secretary has the authority to designate, in his discretion and to the extent consistent with law, a jurisdiction as a sanctuary jurisdiction.  The Attorney General shall take appropriate enforcement action against any entity that violates 8 U.S.C. 1373, or which has in effect a statute, policy, or practice that prevents or hinders the enforcement of Federal law.

(b)  To better inform the public regarding the public safety threats associated with sanctuary jurisdictions, the Secretary shall utilize the Declined Detainer Outcome Report or its equivalent and, on a weekly basis, make public a comprehensive list of criminal actions committed by aliens and any jurisdiction that ignored or otherwise failed to honor any detainers with respect to such aliens.

(c)  The Director of the Office of Management and Budget is directed to obtain and provide relevant and responsive information on all Federal grant money that currently is received by any sanctuary jurisdiction.

Sec. 10.  Review of Previous Immigration Actions and Policies.  (a)  The Secretary shall immediately take all appropriate action to terminate the Priority Enforcement Program (PEP) described in the memorandum issued by the Secretary on November 20, 2014, and to reinstitute the immigration program known as “Secure Communities” referenced in that memorandum.

(b)  The Secretary shall review agency regulations, policies, and procedures for consistency with this order and, if required, publish for notice and comment proposed regulations rescinding or revising any regulations inconsistent with this order and shall consider whether to withdraw or modify any inconsistent policies and procedures, as appropriate and consistent with the law.

(c)  To protect our communities and better facilitate the identification, detention, and removal of criminal aliens within constitutional and statutory parameters, the Secretary shall consolidate and revise any applicable forms to more effectively communicate with recipient law enforcement agencies.

Sec. 11.  Department of Justice Prosecutions of Immigration Violators.  The Attorney General and the Secretary shall work together to develop and implement a program that ensures that adequate resources are devoted to the prosecution of criminal immigration offenses in the United States, and to develop cooperative strategies to reduce violent crime and the reach of transnational criminal organizations into the United States.

Sec. 12.  Recalcitrant Countries.  The Secretary of Homeland Security and the Secretary of State shall cooperate to effectively implement the sanctions provided by section 243(d) of the INA (8 U.S.C. 1253(d)), as appropriate.  The Secretary of State shall, to the maximum extent permitted by law, ensure that diplomatic efforts and negotiations with foreign states include as a condition precedent the acceptance by those foreign states of their nationals who are subject to removal from the United States.

Sec. 13.  Office for Victims of Crimes Committed by Removable Aliens.  The Secretary shall direct the Director of U.S. Immigration and Customs Enforcement to take all appropriate and lawful action to establish within U.S. Immigration and Customs Enforcement an office to provide proactive, timely, adequate, and professional services to victims of crimes committed by removable aliens and the family members of such victims.  This office shall provide quarterly reports studying the effects of the victimization by criminal aliens present in the United States.

Sec. 14.  Privacy Act.  Agencies shall, to the extent consistent with applicable law, ensure that their privacy policies exclude persons who are not United States citizens or lawful permanent residents from the protections of the Privacy Act regarding personally identifiable information.

Sec. 15.  Reporting.  Except as otherwise provided in this order, the Secretary and the Attorney General shall each submit to the President a report on the progress of the directives contained in this order within 90 days of the date of this order and again within 180 days of the date of this order.

Sec. 16.  Transparency.   To promote the transparency and situational awareness of criminal aliens in the United States, the Secretary and the Attorney General are hereby directed to collect relevant data and provide quarterly reports on the following:

(a)  the immigration status of all aliens incarcerated under the supervision of the Federal Bureau of Prisons;

(b)  the immigration status of all aliens incarcerated as Federal pretrial detainees under the supervision of the United States Marshals Service; and

(c)  the immigration status of all convicted aliens incarcerated in State prisons and local detention centers throughout the United States.

Sec. 17.  Personnel Actions.  The Office of Personnel Management shall take appropriate and lawful action to facilitate hiring personnel to implement this order.

Sec. 18.  General Provisions.  (a)  Nothing in this order shall be construed to impair or otherwise affect:

(i)   the authority granted by law to an executive department or agency, or the head thereof; or

(ii)  the functions of the Director of the Office of Management and Budget relating to budgetary, administrative, or legislative proposals.

(b)  This order shall be implemented consistent with applicable law and subject to the availability of appropriations.

(c)  This order is not intended to, and does not, create any right or benefit, substantive or procedural, enforceable at law or in equity by any party against the United States, its departments, agencies, or entities, its officers, employees, or agents, or any other person.

DONALD J. TRUMP

THE WHITE HOUSE,
January 25, 2017.

Sắc Lệnh Hành Pháp 25/01/2017: An Ninh Biên Giới và Những Cải Thiện Thi Hành Di Trú Executive Order: Border Security and Immigration Enforcement Improvements (Tài liệu tiếng Anh)

Mấy vụ này lâu nay Luật Di Trú vẫn đề cập và thực thi rồi. Bây giờ chỉ nhấn mạnh thêm xíu thôi…
The White House
Office of the Press Secretary
For Immediate Release

Executive Order: Border Security and Immigration Enforcement Improvements

EXECUTIVE ORDER

– – – – – – –

BORDER SECURITY AND IMMIGRATION ENFORCEMENT IMPROVEMENTS

By the authority vested in me as President by the Constitution and the laws of the United States of America, including the Immigration and Nationality Act (8 U.S.C. 1101 et seq.) (INA), the Secure Fence Act of 2006 (Public Law 109 367) (Secure Fence Act), and the Illegal Immigration Reform and Immigrant Responsibility Act of 1996 (Public Law 104 208 Div. C) (IIRIRA), and in order to ensure the safety and territorial integrity of the United States as well as to ensure that the Nation’s immigration laws are faithfully executed, I hereby order as follows: Read more…