Advertisements
Home > Thư viện - Tư liệu, Uncategorized > Ttd biển Với Lê Uyên Phương và Đà Lạt

Ttd biển Với Lê Uyên Phương và Đà Lạt

    • Bài viết của nhà văn Song Thao. Cọp lai từ trên mạng.
       

      Cả tuổi thanh xuân tôi mê đọc sách và có cái thú sưu tầm sách. Cho tới năm 1975, tủ sách của tôi đã gần hai ngàn cuốn. Đầu năm 1995, tôi trở về thăm nhà, tủ sách của tôi đã tiêu tan hết. May mắn chỉ còn một cuốn. Một tập nhạc. Nó còn sống sót được có lẽ chỉ vì lũ cháu con bà chị tôi còn thích tửng tưng gảy đàn. Tôi nhìn tập nhạc mà rưng rưng trong lòng.Chẳng phải vì nó tang thương quá lắm. Nhàu nát, quăn queo, nhiều trang đã được bện lại bằng những miếng băng keo nhuốm bụi. Nhưng vì nó là một kỷ niệm thiết thân của Lê Uyên Phương tặng tôi. Tập nhạcYêu Nhau Khi Còn Thơ do nhà Quảng Hóa xuất bản năm 1970
      được Lê Uyên Phương đề tặng như sau: Bản riêng tặng anh Song Thao, người đã cho tôi được thấy sự cảm thông tuyệt vời của một tâm hồn nghệ sĩ.Sự cảm thông mà Lê Uyên Phương nhắc tới là một bài báo tôi viết về anh, bài Với Lê Uyên Phương và Đà Lạt, đăng trên tạp chí Thời Nay. Không hiểu sao anh rất thích bài báo này. Có lẽ vì tôi đã thực sự sống với anh một ngày tại căn nhà nhỏ bé nhưng vô cùng thân thiết và ấm
      cúng của anh tại Đà Lạt. Nơi đây anh đã trút hết tâm sự với tôi, những nghĩ suy, hoài vọng, khắc khoải, dự tính và ngay cả cuộc sống, bệnh tật. Cũng có lẽ vì tôi đã hứng thú viết ngay trong khung cảnh Đà Lạt. Của anh và của tôi. Anh ở với Đà Lạt, tôi đang níu Đà Lạt.Hè 1995, tình cờ tôi gặp lại anh tại phi trường Dorval, Montréal. Tôi ra đón người thân từ Cali về, anh và Lê Uyên theo đoàn nghệ sĩ qua thu hình cho Asia. Đụng mặt nhau, chúng tôi ngớ ra nhìn sững nhau. Anh bật ra tên tôi. Chúng tôi mừng rỡ siết chặt tay nhau. Hơn hai chục năm không thấy nhau chứ ít ỏi gì. Chúng tôi vội vàng tách đám đông ra nói chuyện.Anh hỏi nhỏ khi chúng tôi chỉ một mình với nhau.“ Bà xã đi với anh có phải là người con gái ở Đà Lạt anh viết trong bài báo về mình không vậy?”
      Tôi cười gật đầu. Anh thêm.
      ” Chuyện đẹp nhỉ! “Tôi cười gượng. Lòng ngượng ngập khôn tả. Thực ra tôi đâu còn nhớ đã viết những gì trong bài báo đó đâu. Nhưng anh, anh vẫn nhớ. Chắc là nhớ rất kỹ. Tôi thì chẳng dám hỏi. Mặt mũi nào mà hỏi.Tôi khoe với anh mới vừa may mắn tìm lại được tập nhạc anh tặng năm xưa và ngỏ ý muốn tặng lại anh. Anh từ chối. Của anh thì anh cứ giữ, cho lại mình cái photocopy lời đề tặng là được rồi. Tôi gửi cho anh tờ photocopy sau đó. Và chúng tôi nối lại liên lạc. Bằng điện thoại.Tôi gặp Lê Uyên Phương lần đầu trên chuyến máy bay Air Vietnam từ Saigon lên Đà Lạt vào cuối thập niên 1960. Nhìn thấy anh ngồi một mình trên chiếc ghế trong góc cuối máy bay, tôi biết ngay là anh. Mái tóc đó, bộ râu đó, cặp mắt đó, sao mà lầm được. Tôi bước xuống tự giới
      thiệu, làm quen và ngỏ ý muốn phỏng vấn anh. Tôi đường đột.“ Anh đi một mình thôi sao?” Gật đầu.
      “ Lê Uyên đâu?”
      “ Ở lại Saigon. Bận hát.”
      ” Một mình?”
      “ Ừ, một mình!”
      “ Hát nhạc của anh?”
      “ Không, cô ấy hát nhạc khác.” Lặng im. Tôi thấy xót xa.
      “ Tôi nghĩ Lê Uyên chỉ nên hát nhạc của anh, với anh.”
      ” Tôi cũng nghĩ vậy.”
      “ Vậy tại sao anh để như vậy?”
      ” Kiếm sống ấy mà!”Tôi đọc trên mặt anh sự chịu đựng. Cái khó bó cái khôn. Văn nghệ ít khi an bình sóng đôi với cái quay quắt của cuộc sống. Nó phải lùi một bước, chịu thua. Nhưng trong tôi, Lê Uyên và Phương vẫn cứ là một hình ảnh văn nghệ, thuần túy văn nghệ. Hát cho đời, cho người. Vui vậy thôi. Nhạc của Lê Uyên Phương chỉ dành cho Lê Uyên và Phương. Ít ra tôi vẫn nghĩ như vậy.Người khác hát nhạc của Phương, nghe không đã, không phê. Thiếu cái man dã, thiếu cái nức nở, thiếu cái đam mê, thiếu cái ê chề. Chỉ có Lê Uyên và Phương mới đủ nồng nàn, đủ thiết tha, đủ tận hiến cho nhạc của anh. Mỗi lần hát, họ như một lần sáng tác lại. Mỗi lần nghe,
      người nghe như bắt được cái đam mê mới. Mặc sức mà thả hồn, mặc sức mà buông lỏng con tim.Nghe Lê Uyên và Phương hát, dễ thấy sự khổ công của họ. Buổi sáng tinh mơ, mặt trời chưa thức giấc, nơi căn gác rộng trên căn nhà của gia đình Lê Uyên trong Chợ Lớn, tôi đã từng phen thấy hai người mồ hôi mồ kê nhễ nhại luyện giọng. Họ vươn cổ lên, hét ra những tiếng u u dài và cao. Cao đến nứt cuống họng. Cần cổ kéo đày gân, mặt đỏ gay, ngực như trút ra từng vũng hơi sức. Cái giá để giữ vững chỗ đứng trong lòng mọi người.

      Trong một lần điện đàm với anh, tôi đã đốc thúc anh thu CD và vidéo để giữ lại giọng hát của hai người. Tôi đã xót xa khi thấy giọng của Phương đã yếu đi, giãn ra so với thời trẻ. Anh hứng khởi nói về những dự tính của anh. Phải làm trước khi quá trễ. Hè 1996, tôi có dịp qua Cali chơi, điện thoại cho anh. Số điện thoại tôi mang theo lại là số của Lê Uyên. Tôi xưng tên. Giọng Lê Uyên reo lên.

      “ Anh đang ở đâu vậy?”
      ” Ở Santa Ana đây.”
      “ Anh Phương ở dưới Long Beach. Để em cho anh số điện thoại của Phương. Anh rủ anh Phương rồi tụi mình rong chơi một bữa cho vui nghe!”

      Đọc số điện thoại xong, Lê Uyên dặn. “ Nếu anh thấy anh Phương để answering machine thì anh cứ nói vào máy. Nghe giọng anh, anh Phương sẽ bắt liền. Anh ấy ở nhà nhưng bận làm việc, để máy, nghe giọng quen mới nhấc phôn lên nói chuyện. Hồi này anh ấy bận lắm.”
      Tôi phân vân trước mười con số trên điện thoại. Nhấn ngón tay bấm thì dễ nhưng bấm rồi thì chắc Phương sẽ mất một ngày làm việc quí báu của anh. Chẳng nên. Để anh làm việc.

      Ít lâu sau, CD Khi Loài Thú Xa Nhau ra đời kèm theo những hứa hẹn sẽ phát hành tiếp những CD khác. Nhưng chẳng biết những khó khăn nào chồng chất mà những hứa hẹn của anh vẫn chỉ là những hứa hẹn. Cho tới khi quá trễ. Chẳng thể nào trễ hơn được.

      Những ngày Saigon còn chết mê chết mệt với nhạc Lê Uyên Phương, có những đêm tôi đã cùng Lê Uyên và Phương chạy quanh các phòng trà. Một cây đàn, hai khối đam mê, tôi đã nhìn thấy họ giữ nhịp thở người nghe như thế nào. Khung cảnh phòng trà vốn xô bồ đã thốt nhiên gọn ghẽ khi họ bước lên bục trình diễn. Hàng trăm hơi thở đã treo lên khi trên sân khấu Lê Uyên và Phương lặng yên chiêm nghiệm. Họ như hai tín đồ đang ngẩng lên trời cao dọn mình cho những lời kinh. Kinh tình yêu. Rồi đam mê cuộn lên với những ngón tay của Phương hừng hực đập vào đàn.

      Vậy mà những ngón tay tài hoa đó đã buông xuôi.

      Đoạn viết thêm, 36 năm sau: Bài “Với Lê Uyên Phương và Đà Lạt” dưới đây đã được đăng trên bán nguyệt san Thời Nay, số 266, phát hành ngày 15 tháng 11 năm 1970 tại Sài gòn.Khi sinh thời, nhạc sĩ Lê Uyên Phương đã nhiều lần nói với tôi là anh rất thích bài này và vẫn nhớ từng chi tiết trong bài viết. Tôi nghe anh nói vậy mà hết sức thẹn thùng vì chính tôi không còn nhớ một chút gì về nội dung bài do chính mình viết. Mới đây, ca sĩ Lê Uyên đã điện thoại cho tôi hỏi xin bài này để dùng trong một cuốn hồi ký. Tôi đã cố công tìm kiếm bằng cách nhờ nhiều người tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại. Và tôi hết sức vui mừng khi Bác Sĩ Nguyễn Thị Minh Ngọc, tức nhà văn Ngọc, hiện sống tại New York, một độc giả nhiệt thành của Thời Nay, sau rất nhiều công phu vất vả, đã tìm ra được bài này và gửi nguyên bản cho tôi. Nhân dịp phổ biến bài báo xưa này tại hải ngoại, tôi xin cám ơn nhà văn Ngọc về công khó của cô.

      06/2006

      ——————————————-
      Căn gác xép rộng nhưng thấp. Muốn đi phải cúi đầu xuống. Bên ngoài, những bông hoa trạng nguyên màu đỏ đung đưa lả lơi. Sàn gỗ bóng loáng. Vách và trần được sơn đều màu tím hồng. Một chiếc màn voan trắng mỏng treo giữa hai cây cột. Chiếc nệm đặt ngay trên sàn.Tủ sách gồm những cuốn tiếng Anh, Pháp và Việt. Bàn viết nhỏ bừa bộn những giòng nhạc viết dở dang. Đó là nơi Lê Uyên Phương trở về sau những tháng ngày mệt mỏi ở Sài-gòn. Anh như một con thú trốn chạy ánh đèn màu. Không bao giờ quen được không khí phòng trà mặc dù trước đây đã từng chơi nhạc cho các hộp đêm. Đà Lạt đối với anh như một chốn nghỉ ngơi. Đúng hơn như một thánh địa. Cái xứ sở có một khí hậu kỳ quái mang mang làm khắng khít tình yêu và làm xót xa những tâm hồn đơn lẻ. Trời cuối tháng mười lành lạnh. Phi cảng Liên Khương âm u trong bóng chiều tà. Lê Uyên Phương, với cây đàn trong tay, như muốn ôm lấy Đà Lạt sau vài tháng cách xa. Anh ngửa mặt suýt soa. Dễ chịu quá! Đang hát mỗi đêm tại Queen Bee và Ritz, mỗi nơi bốn ngàn đồng một đêm trình diễn, anh đã bỏ hết để trở lại Đà Lạt thần bí. Sống ở Sài Gòn tôi chịu không được. Không viết được một dòng nhạc nào cả. Tôi gần điên lên. Kiếm được chút tiền về sống vài tháng đã. Chuyến này anh về Đà Lạt một mình để hoàn tất tập nhạc Thở Hơi Dã Thú. Người nữ của anh ở lại Sài Gòn. Một giờ trước đây hai vợ chồng đã bịn rịn chia tay nhau như không muốn rời tại cửa ra phi đạo Tân Sơn Nhất. Tình yêu của họ chất ngất ngút ngàn. Họ chia nhau cả cái tên. Lê Uyên Phương là biệt hiệu của Lê Văn Lộc. Nay anh chia bớt cho người yêu một nửa. Nàng nhận hai chữ đầu Lê Uyên. Chàng dùng chữ cuối Phương. Tôi hỏi đùa anh cho mượn hay cho đứt.Cho đứt chứ! Cuộc đời mình còn cho nữa là cái tên. Lê Uyên tên trong khai sanh là Lâm Phi Anh. Thời hát ở Đà Lạt lấy tên Cẩm Thúy. Chuyện tình của họ cũng dài và rắc rối không kém gì câu chuyện của những cái tên.

      Trước hai ly trà nóng, người thanh niên có mái tóc chải ép sát xuống trán, chiếc miệng rộng hơi nhô ra, hàng râu mép lưa thưa, ngồi kể lại chuyện đời mình. Sinh trưởng tại Đà Lạt, năm nay anh đã 29 tuổi. Năm 20 tuổi anh bắt đầu đặt nhạc. Những ngày lưu lạc từ Pleiku, Ban Mê Thuột, Quy Nhơn tới Nha Trang, anh đã sống một đời cực nhọc thiếu thốn. Dạy học, làm dinh điền, đi hát để kiếm sống. Năm 1965 anh mới thực sự trở lại sống luôn ở Đà Lạt. Một năm sau, chuyện tình của họ bắt đầu. Phương có trí nhớ thật ngắn ngủi. Tôi không nhớ được lời nhạc do chính mình sáng tác nhưng bà xã thì thuộc lời lắm. Khi hát anh phải hát theo vợ.

      Và đến câu chuyện tình của chính mình cũng chỉ nhớ loáng thoáng. Anh với tôi phải tìm những cái mốc thời gian một hồi mới xác định được là họ đã chính thức thành hôn vào tháng 11 năm 1968. Bậy quá hà! Sao mình không nhớ được gì hết! Anh vỗ trán than trách. Hồi đó Phi Anh từ Sài Gòn lên Đà Lạt học. Ở nội trú tại trường Virgo Maria. Nàng có người bà con ở gần nhà anh. Anh chỉ chỉ tay nói. Ở bên đây này. Căn phòng của anh ở đường Võ Tánh và tay anh chỉ về phía hồ Xuân Hương. Nàng quen em gái anh và thỉnh thoảng vẫn lui tới nhà.

      Lúc đầu nói chuyện thường thường rồi sau anh trở thành “cố vấn” của nàng. Nàng hỏi ý kiến anh đủ thứ chuyện kể cả chuyện yêu đương nhăng nhít. Họ yêu nhau lúc nào không biết. Tôi hỏi anh ngỏ tình yêu ở đâu. Trên đồi! Đà Lạt có những ngọn đồi mộng mơ cho những kẻ yêu
      nhau quấn quít. Một chiều xuân đê mê gối chăn còn ấm da nồng. Tình dài đâu anh ơi đứt dây hững hờ. Một lần vui cho nhau để sầu muôn kiếp gối đầu trên bờ vực sâu đớn đau (Ngồi LạiTrên Đồi).

      Chuyện tình của họ đòi đoạn đớn đau. Gia đình nàng không chấp nhận. Họ mê say trong trốn chạy. Hồi Việt Cộng tấn công đợt hai vào tháng 5 năm 1968, hai người sống ở Sài Gòn. Họ không có một chỗ gặp gỡ nhau. Suốt ngày hai người ngồi trong sân nhà ga Sài Gòn. Thỉnh
      thoảng họ phải làm bộ ngoắc tay những hành khách ngồi trên xe ca của hãng Hàng Không Việt Nam cho ra vẻ ngồi chờ người nhà. Mỗi ngày chỉ có một mẩu bánh mì nhỏ trong bụng.

      Họ sống như vậy một tháng trời. Tình yêu của họ được kết hợp bằng những ngày không có nhau. Chính những ngày xa cách nhớ thương là thời gian anh sáng tác nhạc. Những bản nhạc đang dần dần quen thuộc với mọi người được kết tinh trong sự nhớ thương đó nên nặng mang
      sự chia phôi. Mười hai bài trong tập Khi Loài Thú Xa Nhau được viết trong thời kỳ này. Nó không còn mang tình yêu thơ mộng, tình yêu trong trí tưởng, thật xa và thật huyền diệu như mười bài trong tập Yêu Nhau Khi Còn Thơ được sáng tác trong thời kỳ trước đó khi chưa gặp
      Lê Uyên.

      Tiếng Lê Uyên và Phương từ chiếc máy cassette quấn lấy nhau vọng ra. Giờ này còn gần nhau. Gần thắm thiết trong mối sầu. Gần bối rối biên giới từ lòng đau. Giờ này còn cầm tay.Cầm chắc mối duyên bẽ bàng. Cầm chắc mắt môi ngỡ ngàng. Cầm giá buốt thương đau. Ngày mai ta không còn thấy nhau… Lệ ngập ngừng bờ mi. Giọt nước mắt lăn nỗi buồn. Giọt nước mắt xa cách vời vợi trông. Giờ này còn nhìn nhau. Nhìn đắm đuối như suối bền. Nhìn suốt kiếp như chết mòn. Nhìn hấp hối thương đau. Ngày mai ta không còn thấy nhau (Cho Lần Cuối). Anh khẽ bảo tôi chính vì bài này mà người ta đồn là anh sắp chết. Bệnh tật của
      anh đã trở thành huyền thoại. Người ta bảo là anh chỉ còn sống được một năm nữa. Người ta đồn là vào năm 1972 anh sẽ chết. Tôi đã định hỏi về những chuyện này từ lâu nhưng thật khó bắt đầu. Lợi dụng cơ hội này tôi hỏi kỹ càng. Anh đưa bàn tay trái cho tôi coi. Trên lưng
      ngón tay trỏ nổi lên một cục bằng trái cà chua nhỏ đỏ au và mòng mọng. Những đường gân máu chạy nổi thấy rõ. Bác sĩ cũng chưa thể định là bệnh gì. Bây giờ nó đã nổi thêm trên mấy ngón khác và một vài chỗ trong người. Muốn chữa bây giờ chỉ có thể cắt ngón tay này nhưng
      tôi chưa muốn cắt. Anh xác nhận là những bài ca viết về sự chia phôi không phải là do bị ám ảnh bởi cái chết nhìn thấy trước mà do sự rắc rối và xa cách của mối tình đẹp nhất đời anh và khi được hạnh phúc anh luôn luôn sợ ngày nó sẽ hết. Người nghệ sĩ không những sống cho
      mình mà còn thông cảm được với cuộc sống của những người khác. Anh đã nhìn thấy cái chết và đã nghĩ nhiều về cái chết. Dân Đà Lạt vẫn chưa quên vụ án mạng vì tình ở quán Tình Nhớ. Người con gái duyên dáng đã nằm xuống với những viên đạn trên người. Phương đã nhìn thấy đám tang, nghĩ về cái chết. Cuộc đời đó qua như ngày đông. Phòng lạnh giá môi xô nụ hôn. Người nằm đó xin cho được yên. Còn tìm đâu áo mát thanh xuân ấp hơi nồng trên da thịt đầy. Còn tìm đâu gối thắm đê mê, còn gì đâu. Tình tình ơi đã chết trong mơ, sống bên ngoài như qua mộng hờ. Đành vùi sâu số kiếp không đâu, còn lại đây khối trơ tình sầu (Đưa Người Tuyệt Vọng).

      Người con gái khiến anh sáng tác bản Tình Khúc Cho Em chỉ là mối tình mê đắm của cô nàng với bạn anh mà anh chỉ tham dự như một vai trò bất đắc dĩ. Cho em môi hôn vội vàng. Cho em quen ân tình sâu. Dù em không mong dài lâu. Xin cất lấy ước mơ đầu. Xin cho yêu em nồng nàn dù tháng năm buồn vui bàng hoàng. Vì đâu mê say phồn hoa, như áo gấm sáng lóng lánh, ôm rách nát không tâm linh, ôm tiếng hát không hơi rung nghèo nàn. Còn yêu chi hoa ngày xanh héo hon vì mong manh bỏ quên lại người sau ngỡ ngàng. Thương em khi yêu lần đầu. thương em lo ân tình sau, dù gương xưa không được lau, soi lấy bóng mối duyênsầu. Cho tôi yêu em nồng nàn dù biết yêu tình yêu muộn màng (Tình Khúc Cho Em).

      Bệnh tật đối với anh phải là một nỗi ám ảnh không rời nhưng chính cái ngón tay tội nghiệpđó đã cản trở nhiều cho nghề nghiệp của anh. Năm 11 tuổi anh đã học vĩ cầm với Giáo sư Francois Régor, người Ý, lúc đó đã 80 tuổi. Anh chơi vĩ cầm rất khá nhưng nay đã phải bỏ hoàn toàn. Tôi nhìn hộp vĩ cầm đóng bụi nằm trên giá sách. Anh ngồi cúi mặt trầm ngâm.

      Tôi phá vỡ sự im lặng nặng nề bằng cách hỏi về số lợi tức kiếm được khi cho thâu cuộn băng 12 Tình Khúc Lê Uyên Phương. Tôi được chia 50% tiền lời. Tới bây giờ đã thu được 100 ngàn đồng. Tôi với tay lấy cuốn sách hình trẻ con nhỏ xíu và ngạc nhiên khi thấy nhiều cuốn sách loại này trên chiếc giá bằng sắt xinh xắn. Tôi có một cháu bé hai tuổi nhưng sách hình này để cho bà xã coi. Bà ấy thích coi hình lắm. Người nữ ca sĩ 20 tuổi nhưng có khuôn mặt từng trải lại mang một tâm hồn hết sức trẻ thơ. Nghe cái giọng khàn khàn khắc khoải của Lê Uyên không ai nghĩ tới cái sở thích vô tội như vậy. Bà xã mình hát nhạc của mình hợp ghê hả? Kỳ vậy chứ! Nhạc của anh đến trong đầu anh thật bất ngờ. Anh cố gắng tả cho tôi thấy là có những lúc tự nhiên anh nghe thấy rõ ràng cả một câu nhạc trong đầu. Như lần anh đi hội chợ Domaine de Marie. Mỗi năm hội chợ này được tổ chức trên một ngọn đồi đẹp dễ sợ. Khi anh đang đứng trong hội chợ vào một đêm mùa đông thì anh nghe được điệu nhạc và vội chạy về ghi lại. Tới hai giờ sáng, nghĩa là 5 tiếng đồng hồ sau, anh hoàn thành bản Đêm Chợ Phiên Mùa Đông.
      Tập nhạc Thở Hơi Dã Thú mà anh định hoàn tất trong chuyến trở về Đà Lạt lần này sẽ bắt đầu bằng bàiVũng Lầy Của Chúng ta. Đây là bản nhạc anh đã thai nghén trong nhiều năm trời. Anh nghĩ về trách nhiệm khi đón nhận hôn nhân. Anh tự hứa là phải viết nhưng nhiều năm trôi qua bản nhạc mới được ghi những dòng cuối cùng. Theo em xuống phố trưa nay,đang còn ngất ngất cơn say. Theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau. Cho nhau hết cả mê say. Cho nhau hết cả chua cay. Cho nhau chắt hết thơ ngây, trên cánh môi say, trên những đôi tay, trên ngón chân bước về tình buồn tình buồn…Qua đi qua đi dứt cơn mê, tình buồn chồng chất lê thê. Qua đi qua đi dứt cơn say, tình này tình rồi thay. Ta sống trong vũng lầy một ngày vùi dần còn vùi sâu, còn vùi sâu trong ngao ngán không dứt hết cơn ê chề. Ta sống trong vũng lầy, một ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu trong ngao ngán
      không dứt hết một lần đau.

      Đà Lạt hoang sơ quyến rũ đã đưa anh trở về những rung cảm nguyên thủy của buổi hồng hoang. Không có Đà Lạt chắc khó có một thứ nhạc độc đáo Lê Uyên Phương. Mỗi ngày anh thức dậy từ sớm đi lang thang khắp núi đồi Đà Lạt tới khoảng nắng lên thì trở về nhà nghỉ.

      Khi mặt trời đi ngủ anh lại đi cho tới tối trở về ngồi vào viết tới sáng. Anh sẽ trở lại Sài Gòn khi Thở Hơi Dã Thú hoàn tất.
      Trời cuối tháng mười lành lạnh. Tôi nhìn màu xanh Đà Lạt trong cơn mê ngủ quái dị. Em yêu dấu, anh một mình trở lại thành phố kỷ niệm này để lang thang trên những lối mòn đồi núi bị chặn lại bằng từng gốc cây ân tình. Anh như chênh vênh trong niềm hạnh phúc vẫn còn lãng đãng rơi rắc lại trên những ngọn cỏ non nớt.
      Trời Đà Lạt lạnh tê tái.

      Song Thao.

Advertisements
  1. 20.03.2014 at 00:30

    chào anh..em là người lần đầu tiên biết trang web anh….em có 1 trường hợp và rất cần 1 sự chia sẻ và trợ giúp của anh ạ
    Chồng em đi mỷ năm 1989…chưa có quốc tịch,chỉ có thẻ xanh, năm 1996 anh ấy đã bị 2 toi felony và anh ấy về việt nam nhiều lần..năm 2011 anh ấy trở qua mỹ lại thì bị giữ thẻ xanh luôn,..ảnh có hộ chiếu việt nam được cấp tại mỹ,nên ảnh về việt nam được 3 năm..anh ấy có ba má,2 người em trai có gia đình hết và họ là người có quốc tịch mỹ..nay em xin hỏi anh là làm cách nào để ảnh có thề quay trở về mỹ lại bằng diện bão lảnh nào được ..em mong và chờ câu trả lời hồi đáp của anh..chúc anh cuối tuần vui vẻ

  2. AnThy Nguyễn
    20.03.2014 at 00:30

    AnThy Nguyễn :
    chào anh..em là người lần đầu tiên biết trang web anh….em có 1 trường hợp và rất cần 1 sự chia sẻ và trợ giúp của anh ạ
    Chồng em đi mỷ năm 1989…chưa có quốc tịch,chỉ có thẻ xanh, năm 1996 anh ấy đã bị 2 toi felony và anh ấy về việt nam nhiều lần..năm 2011 anh ấy trở qua mỹ lại thì bị giữ thẻ xanh luôn,..ảnh có hộ chiếu việt nam được cấp tại mỹ,nên ảnh về việt nam được 3 năm..anh ấy có ba má,2 người em trai có gia đình hết và họ là người có quốc tịch mỹ..nay em xin hỏi anh là làm cách nào để ảnh có thề quay trở về mỹ lại bằng diện bão lảnh nào được ..em mong và chờ câu trả lời hồi đáp của anh..chúc anh cuối tuần vui vẻ

    • 22.03.2014 at 00:30

      Xin lỗi em anh bận quá nên hồi âm em trễ
      Hiểu biết chung phạm 2 tội felony không thể định cư Mỹ được nữa
      Nếu có du di thì phải ở ngoài Mỹ 10 năm mới xin miễn trừ được.
      Thư bạn viết thiếu thông tin quá nên không tư vấn rõ ràng cho bạn được
      Anh ấy về VN nhiều lần?
      Trước hay sau khi phạm tội
      Anh ấy về VN lần cuối năm nào
      Ảnh có hộ chiếu nên ảnh về VN được 3 năm ? Ý em muốn nói điều gì với câu này.
      Năm 2011 câu chuyện đã như thế nào sau khi ảnh bị thu thẻ xanh?
      Bạn cho thêm thông tin nhé!

  1. 26.06.2014 at 00:30

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: